Thursday, August 23, 2012

On Evolution (For students)

When I was in the 7th grade, I had a very good teacher in my science class. Mr. George McGough was his name. In his classroom there were many ancient artifacts and posters of archaic man like Neanderthals and Cro-Magnon Man. He took the class to fields trips at the museum to study the evolution of human beings in a more interesting way.
I was fascinated by everything that Mr. McGough taught us. Yet at the same time, I was internally disturbed. I had grown up always thinking that God created the world and human beings, the first were named Adam and Eve. So how could it be possible that we evolved from apes and from simple living organisms millions of years ago? It just seemed like my science class was going against everything that I had been taught to believe in.
One day I found a Christian magazine that had articles refuting the theory of evolution. I read the magazine and thought that the arguments made sense. I decided to bring the magazine to Mr. McGough one morning before class began and gave it to him to read. I was thinking that I would “enlighten” my teacher on the truth. Mr. McGough took the magazine and thanked me. He didn’t try to tell me to believe or not to believe. He just accepted the magazine. I am not sure if he ever read it.
My interest in the theory of evolution began with my 7th grade science class and it continued for years afterward. In 8th grade, I even wrote an extensive “research paper” on the “Origin of Species” to enter into a district science competition, of which I received the first place prize.
When I entered the university, my major was biochemistry, so I became a full time science student. Although I am now a missionary priest, and everything I do is about God, I am very proud of and thankful for my science background. Studying science has helped me to think logically, to appreciate the laws that govern how life and nature work, and to look for facts and evidence in every situation that I encounter.
Some may be surprised why a priest would have a degree in science, but in fact it shouldn’t be surprising. In the history of the world, some of the greatest mathematicians, physicists, and scientists are Catholic. The Catholic Church is comprised of countless men and women past and present who are scholars in all kinds of fields. One can say that no matter what field of studies there are on earth, there are probably Catholics engaged in that area.
We can do this because there is nothing in our Catholic faith that prevents us from studying science, to use our reasoning to understand the universe. Human reasoning is a gift that God has granted to us so that we can understand the things around us in a fuller and deeper way. From there, we can also gain knowledge and insights about God as the Creator of the universe in which we live.
The theory of evolution has come about as a result of looking at the evidence available to us. Many famous scholars have studied this theory, and it has been put forth based on solid scientific evidence. Pope Benedict XVI used to comment, “There are many proofs in favor of evolution.” If we look at the evidence and see that it is convincing, why do we have to reject it? The Catholic Church does not reject the theory of evolution as false.
On the other hand, does accepting the theory of evolution mean that there is no God? Absolutely not. It’s true that things on earth evolve from one thing into another over long expanses of time. The evidence show us that. But as our Pope said in a meeting on evolution at the Vatican, "In order to develop and evolve, the world must first be, and thus have come from nothing into being.” How does the world come into being? There has to be a Creator, whom we call God. Pope Benedict also said, the Creator “is the cause of every being and all becoming.”
Therefore, by accepting evolution as the process of how human beings came to exist, we do not have to exclude God out of the picture. In fact, God is involved in the creation of the universe and the development of life and the world. So we don’t have to believe that everything in the world is just pure chance and chaos. Most importantly, we definitely don’t have to believe that we came about on earth just by accident. Yes, we came about by evolution. But evolution does not mean that God did not think about us, did not forsee our presence, did not want us, and did not love us. Evidence from science only tells us what is on the surface. However, our faith and experience tell us a much deeper and more meaningful truth. And that truth is: we came to be because God planned it for us.
Now you ask, OK, if we believe in evolution, then what do we do with the stories from the Book of Genesis that tell of God creating the universe and the world in six days and of the creation of Adam and Eve? As you know, not everything in the Bible is meant to be taken literally. The Catholic Church believes that the creation account from Genesis is an allegory. An allegory is an extended metaphor, especially a story in which fictional characters and actions are used to understand and express aspects of concepts relating to human existence. We read this story to understand how the world and human beings have come about as a result of God’s plan, love, and care. In fact, the creation story tells of a progression of events leading to different things coming about. If we think about it, this is quite symbolic of an evolutionary process that takes place in nature.
From the Book of Genesis, we also see how humans beings are favored and loved by God, but also how we have rejected God due to our weaknesses. From the story, we see the difference between what it means to live in the state of God’s grace and the state of sin. When we read the creation story and the story of Adam and Eve, we don’t have to take every word literally. It is the truths that the story tries to tell us that are most important.
As we can see, the Catholic Church is by no means rejecting evolution as an explanation for the development of life, specifically how human beings came about. However, we must understand evolution and nature properly. There is nothing about the things going on in nature that deny God’s existence. In fact, by looking at nature and using the scientific method, we come to learn more about God. Galileo once said that nature is like a book whose author is God Himself.
So, in short, just because we are Catholic, and that we believe in an almighty and loving Creator, it does not mean that we only act based on blind faith. In the 2000-year history of the Catholic Church, science and scholarship have always been an essential part of our tradition. The theory of evolution, when we examine it fairly and properly, helps us to see that science does not have to be in contradiction with our faith. On the other hand, science helps us to be stronger in our faith, to help us marvel at how great our God is. So next time when you hear that human beings come from apes, you don’t have to be upset. What is most important to us is that human beings, and all things in this universe for that matter, come from God.

Monday, June 25, 2012

Trả lời phỏng vấn nhân dịp kỷ niệm 6 năm trong đời sống linh mục

Kính tặng các Tân Linh Mục Việt Nam trong năm 2012
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Chúa Giêsu lập Bí Tích Truyền Chức Thánh trong khi và ngay khi Người lập Bí Tích Thánh Thể, do đó, thiên chức linh mục và Bí Tích Thánh Thể không thể tách rời nhau, bất khả phân ly. Có thể nói, trên thực tế, không có linh mục cũng không có Thánh Thể, vì không có tác nhân đủ năng quyền để đọc lời truyền phép trên bánh và rượu nhờ đó biến hai hình thể hợp lệ này thành Mình Thánh và Máu Thánh của Chúa Kitô.

Tuy nhiên, theo nguyên tắc, không có Thánh Thể sẽ không bao giờ có linh mục. Hay nói cách khác, hoặc nói ngược lại, chính vì có Thánh Thể mới có linh mục, mới cần đến linh mục, và do đó linh mục chỉ là phương tiện của Thánh Thể và cho Thánh Thể mà thôi. Đó là lý do cho dù linh mục có tội lỗi đến đâu chăng nữa, có phạm đầy những tội trọng đi nữa, lời truyền phép của các vị vẫn hiệu thành, vẫn có năng lực biến bánh và rượu trở thành Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô.   

Sau nữa, linh mục không phải chỉ đóng vai trò thừa tác, ở chỗ "làm việc này mà nhớ đến Thày" (Lk 22:19), khi cử hành Thánh Thể trên bàn thờ nói riêng hay lúc ban các phép Bí Tích Thánh nói chung, mà còn bao gồm cả vai trò chứng nhân nữa. Ý nghĩa của câu "các con làm việc này mà nhớ đến Thày" cũng bao gồm cả khía cạnh chứng nhân này nữa. Bởi vì, Chúa Kitô Phục Sinh đã trao cho các tông đồ cả hai: năng quyền thừa tác và sứ vụ chứng nhân.

Về năng quyền thừa tác khi Người thở hơi trên các vị mà phán: "Các con hãy nhận lấy Thánh Linh. Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha, các con cầm tội ai thì tội người ấy bị cầm lại" (Jn 20:22-23). Về sứ vụ chứng nhân bằng việc rao giảng và đời sống được Người ghép mầu nhiệm Vượt Qua của Người với sứ vụ chứng nhân của các vị như sau: "Như có lời chép Đấng Thiên Sai phải chịu đau khổ và sống lại từ trong kẻ chết vào ngày thứ ba. Nhân danh Người phải được rao giảng cho tất cả mọi dân nước việc thống hối để được ơn tha thứ, bắt đầu từ Giêrusalem. Các con là nhân chứng về những điều ấy" (Lk 24:46-48).

Nếu một Chúa Kitô Thánh Thể được long trọng cử hành trên bàn thờ thế nào thì Người không thể nào lại bị Kitô hữu chúng ta là môn đệ trung thực của Người nói chung và linh mục thừa tác của Người nói riêng bỏ rơi ở đầu đường xó chợ, đói không được cho ăn, khát không được cho uống, trần truồng không được cho mặc, tù đầy không được thăm viếng, khách lạ không được đón tiếp v.v. Tiếc thay, trong cuộc chung thẩm, Chúa Kitô là Vị Thẩm Phán Tối Cao không hỏi chúng ta có dâng lễ hằng ngày hay không, có bỏ lễ Chúa Nhật hay chăng, mà chỉ hỏi chúng ta về lòng bác ái của chúng ta với Người nơi thành phần anh em hèn mọn nhất của Người sống chung quanh chúng ta mà thôi.

Sau đây là cuộc phỏng vấn với một vị linh mục trẻ, Dòng Ngôi Lời, ra trường ở Đại Học Berkeley California, từng là Huynh Trưởng trong Phong Trào Thiếu Nhi Fatima  TGP/LA ở Cộng Đoàn Đức Mẹ Mân Côi Claremont Pomona, chịu chức mới được 6 năm, ngày 27/5/2006; nhưng trước khi chịu chức ngài đã xung phong đi sang Thái Lan để phục vụ những người anh chị em ở đó bất hạnh bị hội chứng liệt kháng – AIDS, hay nhiễm khuẩn liệt kháng  - HIV, từ sau khi chịu chức cho tới nay.

1- Cha đã được Thiên Chúa tuyển chọn vào hàng tư tế thừa tác của Ngài từ ngày 27/5/2006, vậy, trong 6 năm qua, cha cảm thấy đời linh mục của cha ra sao? Buồn vui thế nào?

Thưa anh thật ra sáu năm trong đời sống linh mục cũng chưa phải là dài. Nhưng nó cũng đã đủ để cho tôi cảm nhận được những nỗi vui những nỗi buồn của đời sống linh mục truyền giáo. Khi nói đến nỗi vui thì tôi thấy mình rất may mắn khi được sống một đời sống vừa phiêu lưu nhưng lại rất quân bình. Có nghĩa là được đi rất nhiều nơi, được thử nghiệm rất nhiều điều mới lạ, được gặp gỡ rất nhiều người, được trải nghiệm rất nhiều hoàn cảnh và tình huống trong cuộc sống, nhưng mình không phải như là một anh chàng cowboy hoặc là một người cướp biển, nhưng là một linh mục của Chúa. Nên mình luôn luôn có thể phiêu lưu mà lại không bao giờ thái quá vì những phiêu lưu của mình không phải để đáp ứng những nhu cầu cá nhân mà để thực hiện sứ mệnh rao giảng tin mừng được giao phó.

Tuy nhiên trong cái phiêu lưu đó thì cũng có những khoảnh khắc buồn chóng qua. Đôi khi nhìn lại đời sống của mình tôi cảm thấy tôi quen biết rất nhiều người và có mối quan hệ thân thiết với nhiều người, đó là vì tôi phục vụ rất nhiều tầng lớp. Nhưng rốt cuộc thì từ ngày tôi bước chân đến cánh đồng truyền giáo thì có thể nói tôi chưa tìm thêm được một người bạn mới nào cả. Ở đây, tôi chỉ có những mối quan hệ như cha xứ với giáo dân, anh em đồng nghiệp, thầy với trò, cha với con, v.v. chứ tôi không có mối quan hệ bạn bè với ai hết. Có lẽ đó là một nỗi buồn nho nhỏ trong đời sống truyền giáo của tôi.

2- Trước ngày được thụ phong linh mục, cha đã tình nguyện sang Thái Lan để phục vụ anh chị em bị hội chứng hay liệt kháng – AIDS, hay nhiễm khuẩn liệt kháng  - HIV, xin cha cho chúng con biết tổng quát về hoạt động mục vụ đặc biệt này của cha.

Vâng, thưa anh, một trong những động cơ thúc đẩy tôi đến truyền giáo tại đất nước Thái Lan này là vì tôi muốn phục vụ những anh chị em bị nhiễm HIV hoặc đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Ở đây tôi cộng tác với sư huynh truyền giáo Ngôi Lời là thầy Damien Lunders và các seour dòng Mẹ Têrêxa để chăm sóc cho trẻ em mồ côi, giới trẻ cũng như người lớn bị nhiễm HIV. Đối với cá nhân tôi thì tôi có một đường hướng mục vụ đặc biệt trong vấn đề này là tôi không mấy nhấn mạnh tình trạng sức khỏe thể lý của họ. Thiết nghĩ nhiều khi chúng ta không cần phải giải quyết một vấn đề bằng cách cứ tập trung quá nhiều về nó. Người bị nhiễm HIV cũng cần có cơ hội sống một cuộc sống như những con người, sinh hoạt như bao nhiêu người khác, và tiếp xúc với nhau không phải dựa trên những kết quả xét nghiệm máu hoặc trên một cái nhãn mác nào đó, nhưng dựa trên tính chất con người.

Đó là nền tảng cho các sinh hoạt mà tôi tổ chức trong mục vụ truyền giáo của mình. Trong các sinh hoạt ở nhà thờ tôi, các bạn trẻ bị nhiễm HIV có cơ hội phục vụ và làm tình nguyện viên bên cạnh những bạn trẻ không bị nhiễm. Giáo dân trong cộng đồng đến nhà thờ tham dự lễ bên cạnh những bệnh nhân AIDS trong trung tâm. Trẻ em trong cộng đồng đến nhà thờ sinh hoạt và học hành chung với các em bị nhiễm HIV trong nhà trẻ mồ côi. Giới trẻ thường xuyên nấu thức ăn và ăn chung với nhau sau những giờ sinh hoạt hàng tuần. Một anh thanh niên thường làm đầu bếp chính mỗi ngày Chúa Nhật cho nhóm giới trẻ là một người bị nhiễm HIV.

Tâm điểm của từng sinh hoạt là việc thờ phượng, việc học hỏi, việc chia sẻ bữa ăn, v.v.. chứ không phải là con virut HIV. Các sinh hoạt tạo cơ hội cho mọi người thấy mình bình thường và có môi trường để phát huy chính mình tùy theo khả năng Chúa ban. Không phải chúng tôi che dấu về việc có người bị nhiễm HIV hoặc tránh né vấn đề. Ai đến nhà thờ hoặc đến tham gia các sinh hoạt đều biết thông tin về những người xung quanh mình. Tuy thế, họ vẫn đến vì họ chấp nhận nhau và họ thích thú với những sinh hoạt mà họ đang làm. Nhiều khi trong giờ sinh hoạt tôi lại nghe các bạn trẻ nhắc nhở nhau để uống thuốc cho đúng giờ. Nhiều lần tôi cũng thấy các bạn trẻ nói chuyện với những người lớn bị nhiễm HIV một cách cởi mở về căn bệnh mà họ đang có. Nói chuyện về HIV ở đây trở nên như một câu chuyện thường ngày mà không cần phải tránh né hoặc e ngại.

Điều này có thể ảnh hưởng cách tích cực đối với vấn đề HIV/AIDS không? Tôi nghĩ là có. Tôi tin rằng chỉ bằng cách chúng ta đến với nhau, việc đón nhận nhau sẽ xảy ra cả hai chiều. Những người bình thường sẽ nhận ra rằng họ không phải sợ hãi những người bị nhiễm. Ngược lại, những người bị nhiễm HIV cũng sẽ nhận ra rằng họ vẫn còn chỗ đứng trong xã hội và trong cộng đồng. Việc cảm thông cho những người bị nhiễm HIV/AIDS sẽ gia tăng lúc cộng đồng biết mở lòng đón nhận những người bị nhiễm và chính họ cũng sẽ không tự cô lập mình ra khỏi xã hội. Tôi tin rằng, trong vai trò là một linh mục truyền giáo, tôi phải là người tạo cơ hội cho sự gặp gỡ được diễn ra, rồi từ đó mang lại sự thông hiểu, cảm thông, và đón nhận lẫn nhau. Đó là điều mà tất cả mọi người đều mong muốn.

3- Về hoạt động mục vụ phục vụ anh chị em bị hội chứng hay liệt kháng – AIDS, hay nhiễm khuẩn liệt kháng  - HIV này, cha có cảm thấy những khó khăn xẩy ra hay chăng, liên quan đến vấn đề tiền bạc, lây nhiễm hay những gì khác chúng con không ở trong cuộc không biết?

Thưa anh tôi rất may mắn vì tôi không phải phụ trách những sinh hoạt đòi hỏi chi phí cao vì những mảng đó đã có những người khác đảm trách. Chắc chắn vấn đề tài chánh luôn luôn là những điều thách đố cho những vị ấy. Riêng tôi vì tôi phụ trách khía cạnh tâm linh và tinh thần nên tôi chỉ tạo nên những chương trình và sinh hoạt mà tôi cho là “mạng lại hiệu quả cao nhưng xử dụng tài chánh thấp”. Tôi khá tiết kiệm trọng việc xử dụng ngân sách. Ví dụ như một bữa ăn trưa ngày Chúa Nhật của nhóm giới trẻ (tuổi từ 15 đến 25), khoảng 30 người chỉ mất khoảng 12 USD. Nhưng đó là một sinh hoạt rất bổ ích và vui vẻ.

4- Hoạt động mục vụ giúp anh chị em bị hội chứng hay liệt kháng – AIDS, hay nhiễm khuẩn liệt kháng  - HIV  này được cha tình nguyện dấn thân phục vụ trước khi thụ phong linh mục dầu sao cũng là một hoạt động truyền giáo, như việc truyền giáo của Mẹ Têrêsa Calcutta qua hoạt động phục vụ bác ái anh chị em nghèo khổ nhất ở giữa thế giới Ấn Giáo xưa, cha có thấy hoạt động phục vụ bác ái này của cha đánh động nhiều tâm hồn người Thái Lan vốn sùng Phật giáo khiến họ xin muốn gia nhập Giáo Hội Công Giáo chăng?

Thưa anh, công việc chăm sóc người bị nhiễm HIV/AIDS luôn được những người xung quanh thán phục. Tuy nhiên, nó không hẳn làm cho người ta bỏ đạo của mình mà theo đạo Công giáo một cách dễ dàng. Nhưng một điều mà tôi nhận thấy là nó luôn luôn thúc đẩy cho người ta cởi mở tâm hồn và bác ái hơn. Nhiều người khi biết ở đây chăm sóc người bị nhiễm HIV thì đến đãi bữa ăn cho các em, hoặc cúng những áo quần cũ, hoặc giày dép trong ngày đầu đi học, v.v. Có thể nói công việc của mình cũng là một nhịp cầu đưa những mảnh đời lại gần nhau hơn và sống bác ái với nhau hơn. Đó cũng là một chiều kích của công việc truyền giáo.

5- Ngoài hoạt động mục vụ cho anh chị em bị hội chứng hay liệt kháng – AIDS, hay nhiễm khuẩn liệt kháng  - HIV, hình như cha còn một hoạt động truyền giáo khác nữa, như chủ trương và thực hiện một chương trình phát thanh Công giáo từ mấy năm nay phải không cha? Nếu đúng như vậy xin cha cho chúng con biết qua về chương trình phát thanh này được không?

Vâng, thưa anh theo sự khuyến khích của ĐGH Benedictô kêu gọi các linh mục tu sĩ phải biết tận dụng kỹ thuật tân tiến của thời đại để rao giảng Tin Mừng, vì thế, tôi cũng cố gắng làm những gì có thể được để phục vụ cho mục đích này.  Thời gian qua chúng tôi thực hiện chương trình radio phát thanh Công giáo mỗi ngày trên đài radio địa phương. Chúng tôi thuê giờ mỗi ngày nhưng vì không đủ khả năng để làm chương trình cho hàng ngày nên một số chương trình chúng tôi lấy từ Ủy ban truyền thông của HĐGM Thái Lan, cắt nối lại cho phù hợp với địa phương rồi phát thanh. Ngoài chương trình radio, chúng tôi cũng tận dụng những phương tiện khác như trang nhà, mạng xã hội facebook và blog. Tôi là linh mục tư vấn thường trực cho một diễn đàn Công giáo do một nhóm giáo dân Thái Lan dựng lên. Vì thế tôi thường xuyên nhận những email xin tư vấn liên quan đến những vấn đề đức tin cũng như đời sống đạo đức. Tôi cũng hay nhận được những câu hỏi như vậy thông qua trang facebook cá nhân của mình. Đa số các câu hỏi đến từ thành phần các bạn trẻ.

6- Sau hết, ở một xứ sở hầu hết là Phật giáo và sùng Phật, cha thấy vấn đề truyền giáo của Giáo Hội (hoàn vũ và địa phương) ở đây ra sao? Theo cha, phải làm sao để hoạt động truyền giáo của Giáo Hội nói chung ở đây có thể phát triển, dễ dàng và gặt được một vụ mùa phì nhiêu?

Thưa anh, GH Công giáo ở Thái Lan rất nhỏ, chỉ chiếm một nửa của một phần trăm dân số. Nhưng ngược lại, trường học Công giáo tại Thái Lan thì rất nổi tiếng và đa số con cái của những người có chức quyền và tiền bạc đều học ở trường Công giáo. Dĩ nhiên nhiều học sinh xuất thân từ các gia đình trung bình cũng đi học ở trường Công giáo. Vì thế mỗi ngày, trường CG tiếp cận được với rất nhiều giới trẻ Phật giáo trên khắp cả nước Thái. Nhưng theo nhận xét của tôi thì các hội dòng và các giáo phận dường như chưa nỗ lực hết mình để khai thác phương tiện này trong việc truyền giáo. Nhiều khi các trường học CG trở nên một nỗ lực kinh doanh để có nguồn lợi tức hơn là để phục vụ cho mục tiêu truyền giáo. Một cảm nhận cá nhân khác là nhiều người Công giáo tại Thái Lan, và một số thành phần trong GH Công giáo tại Thái Lan còn tỏ ra rất bị động và nông cạn trong suy nghĩ và cách thể hiện đức tin của mình. Vì thế không đủ sức mạnh để thuyết phục người khác và không đủ thu hút để lôi cuốn người khác theo mình. Mình lại bị họ thu hút nữa là đàng khác. Người Công giáo tại Thái Lan chỉ có thể truyền giáo được khi đức tin của họ có chiều sâu và họ dám sống đức tin một cách mạnh dạn và hăng say hơn. Nhưng có lẽ đó không phải chỉ là vấn đề của người CG Thái Lan, nhưng mà là vấn đề của người CG ở khắp mọi nơi.

Thursday, January 12, 2012

Truyền giáo trên mạng

Gần đây tôi phát hiện ra mình rất hiện đại và rất theo kịp với trào lưu thế giới, mặc dầu nơi tôi ở và làm việc truyền giáo là một vùng tương đối xa xôi, không phải là một thành phố hiện đại như những nơi khác. Ngoài việc có một blog cá nhân, tôi còn có một trang Facebook, với rất nhiều người bạn, mặc dầu phải thừa nhận là đa số những người bạn đó chẳng bao giờ nói gì với tôi cả. Trên trang Facebook của mình, tôi trao đổi với người này người nọ bằng ba thứ tiếng, Anh, Việt và Thái. Ngoài ra tôi còn là linh mục cố vấn thường trực cho một diễn đàn Công giáo dành cho người Thái. Nhờ kỹ thuật hiện đại mà cho dầu tôi sống ở một tỉnh lẻ khá xa xôi trên đất Thái, nhưng tôi vẫn cảm thấy như mình được nối kết với khắp nơi trên thế giới, và nhất là “sân chơi” của tôi không chỉ là cái tỉnh nhỏ bé nơi tôi làm việc, mà cánh đồng truyền giáo của tôi trở nên thật bao la rộng lớn. Có thể nói qua những phương tiện này mà đời sống truyền giáo trở nên thật thú vị và phong phú, mang lại cho tôi những câu chuyện đặc biệt, đáng ghi lại trong bài chia sẻ về kinh nghiệm truyền giáo của tôi.
Một trong những điều thú vị nhất là những email và nhắn tin mà tôi đã nhận được từ rất nhiều bạn trẻ trên khắp nước Thái để xin lời khuyên và tư vấn về đời sống đức tin. Cách đây không lâu, tôi nhận được email từ một bạn trẻ tên Ni. Ni năm nay 14 tuổi và hiện đang sống tại miền nam nước Thái. Em chia sẻ với tôi rằng, em rất buồn vì gần đây mẹ em phát hiện ra em đang sở hửu một cuốn sách Kinh Thánh, làm cho bà rất giận và buồn. Bà không thèm nói chuyện với em nữa. Lý do bà ta phản ứng mạnh như thế là vì trong dòng tộc ai nấy đều theo Phật giáo. Giờ em lại muốn đi theo Kitô giáo thì gia đình không thể nào chấp nhận được. Nỉ nói với tôi rằng em chưa bao giờ được đến nhà thờ Công giáo nào cả. Em cũng không biết ở gần nhà em có nhà thờ nào không. Nhưng trong thâm tâm em muốn trở nên người Công giáo. Và vì không có điều kiện đi nhà thờ hoặc học giáo lý, nên em chỉ có thể tìm hiểu về đạo Công giáo bằng cách tham khảo qua mạng, đặc biệt những gì trên diễn đàn mà tôi đang cộng tác.
Thật ra chuyện của Ni không phải cá biệt. Từ ngày lên mạng cho đến nay, tôi đã nhận được hàng chục email và lời chia sẻ đến từ các bạn trên khắp nước Thái với những vấn đề tương tự. Chuyện các bạn muốn theo đạo nhưng cha mẹ không chấp nhận rất phổ biến. Đối với các bạn nam thì đặc biệt gây cấn vì theo truyền thống của người Phật giáo tại Thái Lan, thì con trai trước khi bước vào tuổi hai mốt thì phải đi vào chùa tu một lần để lấy phúc cho cha mẹ của mình. Việc họ đi tu một thời gian, có thể một hai tháng hoặc lâu hơn là việc báo hiếu cha mẹ và là yếu tố quan trọng cho việc cha mẹ của họ được lên “thiên đường” sau khi chết. Người Thái tin rằng, khi họ chết họ có thể nhờ vào chiếc áo tu của con mình để lên thiên đàng. Vì thế nhiều cha mẹ không đồng ý cho con theo đạo Công giáo với lý do rằng, “Mày đi theo đạo Kitô giáo thì ai đi tu báo hiếu cho tao?”
Có bậc cha mẹ có con đã theo đạo Công giáo nhiều năm rồi mà vẫn kèo nài con mình phải đi tu cho bằng được. Đó là trường hợp của một bạn trẻ tên Joe, người con trai duy nhất trong một gia đình người Thái gốc Hoa. Joe kể cho tôi nghe, em đã theo đạo từ năm 15 tuổi. Thời gian đầu thật khó khăn. Mỗi lần đi nhà thờ về là bị cha mẹ la mắng, nhiều khi buồn quá không biết làm gì, chỉ biết khóc. Nhưng vì lòng sùng đạo mà em đã giữ vững đức tin. Em rất kính mến Đức Mẹ, đặc biệt là Mẹ Lavang. Trong nhà Joe, mặc dầu cha mẹ phản đối, nhưng em vẫn có những tưởng ảnh Chúa Mẹ mà em đã mua từ nơi này nơi khác. Joe nói với tôi, trong nhà, lầu một là nơi làm kinh tế của gia đình. Lầu hai là của bố mẹ, nên họ chưng những hình ảnh về Phật giáo. Còn lầu ba là của em, em chỉ trưng bày hình ảnh Công giáo, không có tượng ảnh nào của Phật. Bây giờ cha mẹ của Joe không la mắng khi em đi lễ nữa, và chấp nhận cho em có tượng ảnh Chúa trong nhà, nhưng có một điều làm em rất khổ tâm. Đó là đến bây giờ mà mẹ Joe vẫn kèo nài mãi, muốn em vào chùa tu để lấy phúc cho bà ta. Joe tâm sự, “Em không tin thì làm sao có thể vào chùa được? Em nghĩ có lẽ khi vào chùa, thay vì tụng kinh, em sẽ đem chuổi Mân Côi theo để lần hạt hằng ngày.”
Trường hợp của Cap, một sinh viên đại học tại tỉnh Mahasarakham, vùng đông bắc Thái Lan thì có hậu hơn. Cap kể cho tôi nghe, em bắt đầu làm quen với đạo Kitô giáo từ năm học lớp sáu, và cũng bắt đầu học giáo lý từ đó. Thoạt đầu, cha mẹ rất tức giận khi biết con mình làm điều đó, đặc biệt cả hai ông bà đều là cán bộ nhà nước trong một quốc gia mà Phật giáo được xem là quốc giáo. Không chỉ bị la mắng, cha mẹ Cap còn đe doa trừng phạt bằng cách này cách khác. Nhưng Cap vẫn không chịu bỏ học giáo lý và tiếp tục tham gia vào các sinh hoạt giới trẻ trong nhà thờ. Thế rồi sự trung tín của Cap cũng đã mang lại niềm hạnh phúc sâu xa cho em khi tháng 5 vừa qua, ở tuổi 20, em đã được rửa tội và chính thức trở nên người con của Chúa. Cap chia sẻ tại sao em phải chờ thật lâu mới được rửa tội. “Có hai lý do em chờ tới tuổi 20 để rửa tội. Điều thứ nhất là em muốn chứng minh cho cha mẹ em hiểu rằng, việc em theo đạo Công giáo không phải là bị dụ dỗ, hay là chuyện thiếu ý thức. Em phải thực sự tin em mới dám chờ cho đến bây giờ. Lý do thứ hai là em sẽ vào chùa tu một tháng để làm tròn bổn phận làm con của em trước khi em lãnh nhận bí tích rửa tội.” Thế là hai tháng trước khi lãnh nhận bí tích rửa tội, Cap đã vào chùa, xuống tóc để làm thầy chùa trong thời gian một tháng.
Cứ thế từ ngày hòa nhập vào xã hội mạng, tôi phát hiện ra sứ mệnh truyền giáo của mình mang thêm nhiều chiều kích thú vì mà chính tôi cũng không ngờ được. Ai cũng biết mạng internet rất phức tạp và quá nhiều người trẻ xử dụng mạng cho những việc thiếu bổ ích và thậm chí tội lỗi. Nhưng bản chất của các phương tiện thông tin đại chúng thì chẳng có gì sai trái cả. Chính vì thế mà Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã kêu gọi chúng ta hãy thổi linh hồn vào hệ thống internet để nó trở nên một dụng cụ cho việc rao giảng Tin Mừng và loán báo những giá trị Nước Trời.
Bản thân tôi cảm thấy vô cùng may mắn khi nhờ có mạng xã hội mà tôi đã làm quen được với rất nhiều người. Cho dù vẫn biết thế giới internet thì rất nông cạn và nhiều khi dã dối. Đằng sau những ký hiệu như mặt cười (J), mặt buồn (L), trái tim (♥), v.v. là những con người thực sự như thế nào không ai biết được. Nhưng một điều ta có thể tin được, đó là những người viết những dòng chữ hoặc gõ những ký hiệu đó không phải là những con robot không có quá khứ và hoàn toàn vô cảm, mà là những con người thật. Họ cũng đang tìm hạnh phúc, đang tìm cho mình một lối đi trong đời. Nhiều người cũng đang lúng túng, đang cô đơn, đang buồn chán, cần được chấp nhận, khuyến khích và nâng đỡ. Kinh nghiện “truyền giáo qua mạng” của tôi đã dẫn tôi đến thật nhiều người thú vị, với những câu chuyện thật cảm động, và đã mở ra cho tôi một viễn tưởng thật to lớn và phong phú về sứ mệnh truyền giáo của mình.
Hình: Khép

Ơn gọi của tôi

Ngày 9.11.2011

Có người hỏi tôi: -Tại sao cha đi tu?
Tôi trả lời: -Chúa gọi tôi đi thì tôi đi.
Họ hỏi tiếp: -Vậy thôi ạ?
Tôi trả lời: -Thì vậy thôi.
Họ không vừa lòng với câu trả lời đó. Họ muốn nghe cái gì đó ấn tượng hơn, kịch tính hơn. Nhưng tôi chẳng có câu chuyện gì để thỏa mãn sự tò mò của họ.
Tôi có một đời sống rất bình thường, chẳng có gì đáng ghi lại để làm thành một cuốn hồi ký. Ví dụ như câu chuyện của những đứa bé là nạn nhân của chiến tranh hoặc bạo lực mà trở nên nhân vật thành công trong xã hội, hoặc là một trẻ mồ côi được ai đó thương hại đem về nuôi mà trở nên một chính trị gia nổi tiếng.
Tôi thì chỉ sinh ra sau chiến tranh, là con út trong một gia đình bình thường. Thời tôi còn nhỏ tôi không biết khổ. Tôi có khổ thì tôi cũng chẳng có nhớ. Sau này lớn lến nghe mẹ và các anh chị kể rằng hồi đó khổ lắm. Tôi chỉ biết lắng nghe chứ tôi không nhớ gì cả. Thật ra những ký ức của tôi không phải là thiếu ăn thiếu mặc, mà tôi chỉ nhớ có những buổi chiều, tôi đang chơi với đám bạn, chị tôi kêu tôi về nhà ăn, không phải một tô cơm, mà là một “thau” cơm. Có lẽ vì tôi còn nhỏ nên một tô cơm trong ánh mắt của tôi xem như một thau cũng nên. Tôi ăn tới chừng nào cũng không thấy hết. Tôi nhớ đi chơi nhà hàng xóm, họ cho tôi ăn cơm độn với khoai mì, tôi thấy ngon lắm. Tôi về nhà hỏi mẹ, tại sao nhà người ta ăn cơm có khoai mì trong đó ngon vậy, mà nhà mình không ăn?
Nhà tôi không giàu, nhưng do bố tôi đi vượt biên trong biến cố Sài Gòn sụp đổ nên cũng đỡ hơn về vật chất so với các gia đình khác. Nhưng đó chỉ là sau này, chứ trước kia, chưa nhận được tin tức của bố, thì nghe nói mấy anh chị tôi phải bỏ học, đi bán thuốc lá trên tàu lửa để kiếm sống, thật cực khổ. Nhưng tôi không hiểu gì về điều đó. Tôi vô tư lắm. Đời sống của tôi là đi học, đi chơi với bạn bè trong xóm, đi học giáo lý, đi nhà thờ. Tôi nhớ có những lần thức dậy đi nhà thờ lúc 4 giờ sáng, vừa đi vừa nhìn vầng trăng. Vầng trăng cứ đi theo tôi như một người bạn đồng hành. Mình đi tới đâu trăng đi tới đó, thật lạ.
Tôi theo gia đình qua tới Mỹ theo diện bảo lãnh. Đời sống của tôi cũng chỉ là việc đi học, đi chơi với bạn bè và đi lễ. Sau này tôi sinh hoạt trong đoàn thiếu nhi trong cộng đoàn vì ở đó bắt đầu có đoàn thiếu nhi Fatima được thành lập. Tôi học chăm chỉ. Gia đình kỳ vọng vào tôi, muốn tôi trở thành bác sĩ. Tôi cũng đồng ý với điều đó. Nếu có trở nên cái gì thì làm bác sĩ là tốt nhất. Giúp người được, làm cũng ra tiền, xã hội lại tôn trọng. Như thế thì đâu cần phải suy nghĩ gì nhiều. Tôi là người học giỏi. Từ nhỏ đến lớn tôi luôn đứng nhất nhì lớp. Việc làm bác sĩ rất khả thi.
Thế nhưng thật ra, tôi chẳng tha thiết gì với việc làm bác sĩ. Tôi cũng không mấy quan tâm đến chức vụ. Tôi chỉ biết là tôi thích sinh hoạt. Ở trường tôi tham gia nhiều câu lạc bộ lắm, và còn là thành viên của đội tennis của trường. Ở nhà thờ tôi cũng tích cực tham gia vào các sinh hoạt của đoàn thể. Rồi tôi còn tham gia vào các sinh hoạt xã hội khác, có khi đi biểu tình chống phá thai, có khi tham gia các phong trào bảo vệ môi trường. Làm những điều này trong lòng tôi cảm thấy rất vui. Đời sống tôi có ý nghĩa, và nó giúp cho tôi xử dụng thời giờ một cách bổ ích hơn.
Có lẽ trong tất cả những thứ này, Chúa đang chuẩn bị tâm trí và tinh thần tôi cho một sứ mệnh lớn hơn, không phải làm bác sĩ hoặc một nhân vật nào đó trong xã hội, mà là một nhà truyền giáo. Nó bắt đầu với cha linh hướng của đoàn thiếu nhi tặng cho tôi một cuốn sách về ơn gọi linh mục. Sách đó tuy mỏng, nhưng viết sâu sắc quá. Tôi đọc không hiểu, đọc nửa chừng thì bỏ nhở. Rồi có những lần, qua các sinh hoạt đoàn thể, tôi gặp các cha, các thầy, các seour. Họ nói chuyện với tôi, gợi ý cho tôi về ơn gọi tu trì. Họ nhìn thật hiền, vui tươi, lịch lãm, đạo đức. Họ hát hay, nói chuyện có duyên, chia sẻ chân tình. Tôi quan sát và thích những tính chất đó của một nhà tu. Rồi có một vị linh mục là người thân của gia đình tôi, ngài đến thăm gia đình, tặng cho tôi cuốn sách về đời sống của cha Đamien, người đã từng phục vụ những người phong cùi tại đảo Molokai. Tôi đọc câu chuyện về ngài, bổng nhiên trong đầu tôi bắt đầu liên tưởng đến nhiều điều, những gì có thể xảy ra trong cuộc sống của tôi.
Phải chăng tôi sẽ là một bác sĩ không phải làm việc trong một bệnh viện hoặc phòng mạch nào đó, mà là một bác sĩ đi phục vụ ở một đất nước thật xa xôi, giúp đỡ những người bần cùng nhất trong xã hội, chữa những căn bệnh mà người ta không thèm quan tâm đến? Hay là…tôi sẽ là một nhà truyền giáo đi ở một phương xa, phục vụ những người bị ruồng bỏ và xua đuổi trong xã hội? Ý nghĩ này làm cho tôi cảm thấy thật hào hứng. Nó tạo cho tôi động lực tại sao tôi nên trở thành một bác sĩ hoặc một nhà truyền giáo. Nó thật hợp với những mơ ước và hoài vọng của tôi.
Rồi từ đó, tôi suy nghĩ nhiều hơn về ơn gọi tu trì, đặc biệt ơn gọi truyền giáo. Tôi vào đại học, vẫn học khoa sinh hóa học để chuẩn bị cho việc thi vào trường y. Tôi cố gắng học thật nghiêm túc để có thể đạt được điểm thi tốt. Tôi học không chỉ một ngành mà chọn thêm ngành thứ hai, đó là Á Châu học, với mục đích đáp ứng sở thích của tôi và làm cho curriculum vitae cùa tôi phong phú hơn. Tôi tham dự các sinh hoạt trong đại học, làm báo, làm tình nguyện viên ở bệnh viện để cho đơn xin vào trường y của tôi có chất lượng hơn. Thế nhưng tôi vẫn cầu nguyện về ơn gọi thực sự của tôi. Tôi gặp một linh mục truyền giáo Ngôi Lời khi còn năm thứ nhất đại học. Gặp chỉ tình cờ thôi, kể ra thì chuyện quá dài. Ngài thỉnh thoảng đến thăm tôi. Ngài lái xe hàng trăm, hàng nghìn cây số để đi quảng bá ơn gọi. Mỗi lần như thế, ngài ghé thăm tôi. Ngài không áp lực tôi phải đi tu. Ngài chi đến thăm, hỏi tôi về những sinh hoạt của tôi, cho tôi một số lời khuyên và những câu trả lời đối với những thắc mắc và ưu tư của tôi.
Tôi học đại học UC Berkeley. Ở đó tôi có nhiều bạn. Ở Berkeley, sinh viên học cũng nhiều mà chơi cũng dữ. Tôi có một đời sống sinh viên bình thường như bao nhiêu người bạn của tôi. Nhưng có điều là tôi luôn đi nhà thờ vào ngày Chúa Nhật, nói đúng hơn là tối Chúa Nhật. Ngôi nhà thờ gần trường đại học tổ chức một Thánh lễ đặc biệt dành cho đối tượng sinh viên vào 10 giờ tối. Ban ngày thì sinh viên đa số còn ngủ, hoặc phải học bài nên không rảnh để đi lễ. Tối Chúa Nhật thì mới đi được. Thánh lễ này rất đặc biệt. Nhà thờ tắt điện hết. Chỉ dùng một số cây nến và một vài ánh điện nho nhỏ nơi bục giảng, hoặc nơi dành cho ca đoàn. Trong nhà thờ người ngồi chật ních, nhưng bầu không khí rất nghiêm trang và thánh thiện. Tôi thích đi thánh lễ này, thường thì đi một mình. Lễ tan, tôi đi bộ về căn hộ của tôi. Có khi vừa đi vừa cầu nguyện. Có khi lại vừa đi vừa hát một bài thánh ca nào đó mà tôi thích. Thật ra không phải cố ý hát, nhưng từ đâu đó trong thâm tâm tôi, tâm tình của những bài thánh ca ấy cứ dâng lên trong lòng tôi và hóa thành những lời hát nghêu ngao trên môi miệng tôi. Có khi tôi bắt gặp mình đang hát, “Xin cho con lòng mến yêu để rồi dù đắng cay trăm chiều, cho con yêu một Chúa thôi, để đời con hết nỗi đìu hiu.” Có khi hát như vậy, nước mắt ứa ra lúc nào tôi cũng chẳng hay.
Và cứ như thế, thời gian trôi qua, tôi ngày càng thấy mình ao ước có một đời sống gắn bó với Chúa hơn, một đời sống phục vụ tha nhân cách dấn thân hơn, và một đời sống phiêu lưu và thú vị hơn sự cạnh tranh trong các bài thi cử, sự bình thường của cái cơm áo gạo tiền, hoặc là cái vô ý nghĩa của những cuộc đi chơi bar hoặc vũ trường. Thế là tôi muốn thử đi theo ơn gọi truyền giáo, để có cơ hội làm những gì tương tự như cha Đamien đã làm. Và vì thế tôi đã từ bỏ ý nghĩ trở nên một bác sĩ. Tôi tốt nghiệp đại học, rồi cuốn gói lên đường vào chủng viện Ngôi Lời, đáp trả tiếng mời gọi của Chúa.
Thế đấy. Không có gì kịch tính cả. Đời sống của tôi sẽ không bao giờ trở nên một bản kịch cho một sân khấu, cho dù là sân khấu nhỏ nhất. Hỏi tại sao tôi đi tu? Tôi đi tu vì Chúa gọi, gọi tôi một cách rất nhẹ nhàng và liên lỉ. Ngài không cho sét giáng xuống trên đầu tôi hoặc cho một cơn gió khủng khiếp nào đó cuốn tôi vào đời sống tu trì. Ngài chỉ đồng hành với tôi như vầng trăng tròn thời thơ ấu, cứ đi theo tôi không dứt mỗi lần tôi bước trên con đường làng nhỏ bé từ nhà đến nhà thờ. Ngài gợi ý cho tôi một cách khéo léo và nhẹ nhàng qua những cử chỉ, hành động và lời nói của những người xung quanh. Và Ngài đánh động tôi bằng những thao thức và hoài bão từ trong đáy lòng tôi làm tôi nhiều khi muốn ngạt thở. Và như thế, con đường rộng thênh thang cho tương lai đã trở nên hẹp lại, vì tôi nhận ra có một lối nho nhỏ để cho tôi rẽ vào. Ngã rẽ hẹp hòi đó lại trở nên một đại lộ mênh mông và giờ đây, tôi là một nhà truyền giáo trên một cánh đồng bao la bất tận.
Tôi ghi lại những ký ức này trong lúc ở vùng đông bắc của nước Thái, người ta đang trong mùa gặt lúa. Những đồng lúa này thì không thiếu thợ gặt. Nhưng cánh đồng truyền giáo thì lời nói của Chúa Giêsu ngày xưa cũng không khác gì ngày hôm nay. Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì quá ít ỏi.